Thứ năm, ngày 28 tháng tám năm 2008

ĐỌC

John Lye

Lý thuyết văn chương đương đại. (phần 2)


Lý thuyết đương đại như một bộ phận của “Bước ngoặt diễn giải” (Interpretive Turn)


Lý thuyết đương đại không đứng một cách biệt lập; nó nằm trong một trào lưu văn hóa rộng lớn hơn đã dẫn đến sự cách mạng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu – trào lưu này thường được hiểu là “bước ngoặt diễn giải”. Thực chất, “bước ngoặt diễn giải” đã được Kant giới thiệu cách đây hai thế kỷ khi ông cho rằng cái chúng ta trải nghiệm như là “thực tại” được tạo nên bởi những phạm trù thuộc về trí tuệ của con người, mặc dù theo ông, những phạm trù này mang tính ổn định và siêu nghiệm. Nietzsche thì quan niệm không có những chân lý nền tảng, lịch sử và kinh nghiệm chỉ là những mảnh vỡ và ngẫu nhiên, bị điều khiển bởi ý chí vươn đến quyền lực. Marx và Freud thì biện luận rằng cái đuợc coi là thực tại, trên thực tế, bị nhào nặn và chi phối bởi những sức mạnh mà chúng ta chỉ nhận thức được một cách gián tiếp, nếu cố nhận thức, nhưng chúng ta có thể tái tạo lại chúng nếu hiểu những quá trình biến đổi mà kinh nghiệm của chúng ta trải qua. Điểm mới cửa bước ngoặt diễn giải lần này là sự thấu thị những điều này cùng những tư tưởng của những học giả có tầm ảnh hưởng mạnh đã hoà kết lại thành những hiện tượng xã hội học đặc biệt, một thế lực văn hoá, một khoảnh khắc chân thực (genuine moment) trong lịch sử và chúng đã dẫn đến những tranh cãi về phương pháp luận cùng những thay đổi trong những thực hành của khoa khoa học xã hội và nhân văn.

Một số ý tưởng trọng tâm của khuynh hướng diễn giải này: người quan sát tất yếu cũng là kẻ tham dự vào cái được quan sát; người nhận thông điệp là một nhân tố của thông điệp; thông tin chỉ là thông tin khi nó được văn cảnh hoá; các cá nhân là những kiến tạo văn hoá mà thế giới ý niệm của mỗi người được tạo nên bởi những cấu trúc diễn ngôn khác nhau (discursive structures), hay bởi những cách nói, những sự tưởng tượng về thế giới; thế giới của mỗi cá nhân không chỉ đa bội và đa dạng mà còn được kiến tạo bởi/thông qua vùng tương tác của những biểu tượng văn hoá, đặc biệt là qua ngôn ngữ; do đó, mọi sự diễn dịch đều bị điều kiện hoá bởi nhãn quan văn hoá và được dàn xếp bởi các biểu tượng và sự thực hành; các văn bản đều kéo theo những văn bản ngầm, chìm bên dưới (sub-texts), hay những cội nguồn và những lực cấu trúc thuờng xuyên được nguy trang hoặc vùi sâu của các thông điệp.

Sự diễn giải được nhìn nhận không phải như là hành vi làm sáng tỏ một chân lý hay một ý nghĩa đã tồn tại trước đó, có vẻ như tồn tại khách quan "tại đó”, mà là sự ấn định một ý nghĩa nào đó đựoc xem là đúng đặt trong ngữ cảnh thế giới khái niệm của những chủ thể diễn giải. Không có “thông điệp” nào cũng như không có sự diễn giải nào trong suốt hoặc vô tư thuần khiết vì chúng được cấu trúc bởi những lực cấu thành thuộc về văn hoá và mang tính cá nhân vốn thường xuyên bị nhấn chìm xuống bên dưới. Trong sự diễn giải văn hoá, văn hoá được quan niệm như một văn bản, một hệ thống các diễn ngôn cấu trúc nên thế giới của văn hoá và kiểm soát những hoạt động và ý nghĩa của văn hoá. Chính vì cách mà các diễn ngôn được thiết lập và tương tác, người ta bao giờ cũng phải đọc qua/ giữa/ dưới các diễn ngôn đó, cùng lúc đọc tự đọc lại chính cái đọc.


Những “sư nguy hiểm” của lý thuyết văn chương.


Đối với nhiều nguời, dường như lý thuyết văn chương đã tấn công vào giá trị cốt lõi của văn chương và việc nghiên cứu văn chương. Nếu mọi thứ đều là văn bản thì văn học cũng chỉ là một thứ văn bản khác mà thôi, không có sự đặc quyền cá biệt nào, ngoại trừ sức mạnh thuyết phục của nó. Nếu như không có ý nghĩa hay chân lý tất định nào và nếu con người là những kiến tạo văn hoá không được đặt trên nền móng của bất kỳ một thứ “nhân tính” phổ quát, cũng không được chống trụ bằng những chân lý xuyên lịch sử nào, vậy thì không những vai trò của văn học như một phát ngôn đặc quyền của những giá trị phổ quát mà bản thân sự tồn tại của những giá trị đó cũng bị đe doạ. Nếu sự diễn giải chỉ mang tính cục bộ và ngẫu nhiên, vậy thì sự ổn định và chắc chắn của ý nghĩa trở nên đáng ngờ vực và vai trò của văn học như một kênh truyền bá những lẽ phải và như một thế lực văn hoá cũng bị giảm thiểu. Nếu sự diễn giải phụ thuộc vào chủ thể diễn giải, vậy thì nguời ta đừng đếm xỉa đến chủ ý của tác giả làm gì. Sự ổn định về nghĩa trở nên “có vấn đề” khi người ta hồ nghi bản chất của những lực lượng chi phối nó hoặc những mục tiêu mà nó cố nhắm tới. Những kiến tạo mang tính chất tưởng tượng như văn học, trên thực tế, có thể chỉ là những phương thức hiệu quả để nguỵ trang cho việc thi triển quyền lực, che đậy những lường gạt, những nứt rạn, bất công mà một nền văn hoá phải rất vất vả để làm mờ nhoà chúng đi. Cuối cùng, lý thuyết được xem như là kẻ tấn công vào chính nền tảng của giá trị và ý nghĩa, vào chính những giá trị nhân tính siêu nghiệm mà tri thức của nhân loại được đặt trên đó, và tấn công vào chính chủ nghĩa nhân văn, sự hiện hữu của cái cá nhân độc lập, mang phẩm chất luân lý, mang tính thống nhất cao, kẻ có thể kiểm soát được ý nghĩa, chủ ý và hành động của mình.

Khi lý thuyết ngày càng chiếm lĩnh vị trí trung tâm trong các khoa ngữ văn Anh thì nghiên cứu văn chương theo quan điểm của nhiều người đã chuyển từ nghiên cứu bản thân văn học sang nghiên cứu lý thuyết. Và khi người ta chú ý đến văn học như là sự biểu đạt văn hoá về đời sống, quan tâm đến tính văn bản (textuality) của tất cả kinh nghiệm thì đường phân định giữa văn học và những hình thức giải trí bình dân hơn bị thách thức; những thể loại như truyện trinh thám hay diễm tình cũng được xem xét một cách nghiêm túc và cặn kẽ như những tác phẩm điển phạm. Bản thân các điển phạm, tập hợp những văn bản được xem là đáng nghiên cứu, học hỏi bởi những chuyên gia đầu ngành cũng bị công kích là mang tính vị chủng, gia trưởng và đặc tuyển cũng như tham vọng trở thành cái tất yếu vì nó muốn tạo ra một ý niệm rằng những điển phạm là những thực thể độc lập, mang giá trị tự tại và những quyền uy siêu nghiệm; chúng không bị cắm rễ vào những môi giới và những sự khả nhiên của lịch sử.

Chính trong trường hợp này lý thuyết văn chương đã thách thức những giả định cốt yếu, nó xác định thiên huớng của mình là hoài nghi, rằng trong thực tiễn, nó vừa là nhân tố phá huỷ mọi giá trị hoặc thuần tuý mang tính trò chơi. Tuy nhiên vấn đề nằm ở chỗ lý thuyết có những lý do tốt đẹp nào không khi nó tra vấn những giả định truyền thống, và rằng liệu nó có dẫn đến những thực hành diễn giải mà cuối cùng cũng có thể đem đến những hiểu bi và giá trị để vun đắp nên một cuộc sống có ý nghĩa và chính đáng. Sẽ rất có tác dụng nếu ta tiến hành xem xét ba khu vực của ý nghĩa trong văn học để làm rõ hơn những lý do biện hộ cho chỗ đứng của lý thuyết, đó là: ngữ cảnh, hệ tư tưởng và diễn ngôn, và cuối cùng là bản thân ngôn ngữ.



Vấn đề ý nghĩa: văn cảnh và liên văn bản (context and inter- text)

Người ta thường nghĩ quá trình của ý nghĩa trong văn học rất sáng rõ: nhà văn viết sách, với những ý tưởng mà họ muốn nói lên; họ nói theo những cách sao cho thật mạnh mẽ, lay động và thuyết phục; độc giả đọc cuốn sách, tuỳ thuộc vào năng lực và trình độ của mình cũng như sự thành công của tác giả, lĩnh nhận thông điệp. Và cái thông điệp đó, chắc chắn, là mục đích. Song chính ở điểm giao này, cái mô thức giao tiếp đơn giản này trở nên “có vấn đề”. Tác giả viết ra một văn bản. Nhưng ông ta viết văn đó trong ít nhất là bốn loại văn cảnh –context (lưu ý sự hiện diện của từ “text” (văn/văn bản) ở đây) mà không phải tất cả những văn cảnh đó, tác giả đều có thể nhận thức được đầy đủ. Trước hết là những văn cảnh thẩm mỹ - những văn cảnh về nghệ thuật nói chung, về vai trò được quan niệm của nó trong văn hoá, về phương tiện của văn bản, thể loại văn bản, những truyển thống thẩm mỹ đặc biệt mà người nghệ sĩ chọn lựa và kế thừa, về phong cách thời đại mà người nghệ sĩ đã viết theo. Thứ hai là những điều kiện văn hoá và kinh tế của việc tạo ra và tiếp nhận văn bản - tức là “thế giới của nghệ thuật” đã giao tiếp với phần còn lại của thế giới xã hội thế nào, tác phẩm được ra đời như thế nào, nó được xác định như thế nào, được lưu hành ra sao, công chúng là ai, họ đối xử với tác phẩm như thế nào, sử dụng nghệ thuật tức là gì, nghệ thuật được phân loại về mặt tính chất xã hội như thế nào. Thứ ba là những ngữ cảnh thuộc về lịch sử cá nhân của bản thân người nghệ sĩ và sự diễn dịch văn hoá về cái lịch sử cá nhân đó và ý nghĩa của nó đối với anh ta như một cá nhân và như một nghệ sĩ. Cuối cùng và quan trọng nhất, văn hoá có những ý nghĩa và phương pháp rộng lớn hơn; những nền văn hoá phụ, giai cấp, chủng tộc, khu vực và phái tính cũng vậy - tẩt cả đều được thiết lập về mặt văn hoá, được đánh dấu (hay được tạo ra) bởi những cách biểu đạt và phân biệt các thái độ, tư tưởng, quan niệm và biểu tượng. Chúng chứa đựng trong đó quan niệm về thế giới được hình dung như thế nào, được bàn luận ra sao, quan niệm và sự phân bổ quyền lực, cái gì được xem là bản chất và giá trị, đâu là những nền tảng và xác nhận của giá trị, quan hệ giữa cá nhân và các nhóm đuợc khái niệm hoá như thế nào.

Đó là những suy tưởng cơ bản nhất về văn cảnh của việc tạo ra một tác phẩm văn chương. Một số văn cảnh có thể được tác giả nhận thức một cách tường minh, một số chỉ có thể cảm nhận một cách hàm ẩn, một số không nhận thức được và hầu như không thể biết đến. Mọi văn cảnh đều điều chỉnh, sửa đổi, làm lệch hướng, cấu trúc lại “ý nghĩa”. Sẽ dễ dàng hơn để làm chủ được sự diễn giải nếu cùng những cưỡng chế của ngữ cảnh đó lại không tương thích với độc giả. Cả tác giả và độc giả đều được định vị về mặt thẩm mỹ, văn hoá, nhân cách, kinh tế, nhưng thường là ở những vị trí khác nhau. Độc giả có một ngữ cảnh rộng hơn về lịch sử và những truyền thống của việc diễn giải văn bản. Khi ta đọc Hamlet, chúng ta đọc nó như một văn bản đã đuợc diễn giải trước chúng ta và đối với chúng ta, theo những cách thức nhất định, nó không còn đơn thuần là văn bản mà Shakespeare đã viết trước đó hay đoàn kịch của ông đã trình diễn, mà là một văn bản nào đó đã được trải nghiệm.

Một văn cảnh quan trọng, mang tính trung tâm, tất yếu của bất cứ văn cảnh nào là sự tồn tại của những văn cảnh khác. Bất cứ tác phẩm văn chương nào, kể cả những tác phẩm sơ sài nhất, cũng nhất định có sự quy chiếu và gợi dẫn đến những tác phẩm cùng thể loại với nó trước đó, đến những văn bản khác trong nền văn hóa và những truyền thống của nó, đến những kết cấu diễn ngôn của văn hóa. Sự tạo ra ý nghĩa từ những hình thức biểu đạt ý nghĩa trước đó và có liên hệ gần được lý thuyết văn học gọi là hiện tượng “liên văn bản”. Bất kỳ cái gì là văn bản tất yếu đều nằm trong quá trình vận hành của diễn ngôn trong nền văn hóa, cái mà ta có thể gọi là liên văn bản: nó chỉ có thể mang nghĩa vì có những văn bản khác mà nó dẫn chiếu và phụ thuộc vào đó để thụ nghĩa. Từ đó suy ra, “nghĩa” trên thực tế được phát tán khắp liên văn bản, nó không đơn thuần chỉ nằm trong văn bản mà thôi. Phạm vi của liên văn bản được mở rộng không chỉ đến những truyền thống và cách vận dụng thể loại, và văn học nói chung, mà còn sang cả những truyền thống tri thức, ngôn ngữ và những tranh biện, những trải nghiệm cảm xúc, những cách diễn dịch văn hóa về kinh nghiệm, những biểu tượng trung tâm, tất cả những hình thức biểu đạt ý nghĩa trong nền văn hóa: nó là một mạng lưới những ám chỉ và quy chiếu. Đây chính là cơ sở để đặt ra nghi vấn một cá nhân có thể có sáng tạo một văn bản đến mức độ nào? Trong số những ý nghĩa liên văn bản này, nhiều ý nghĩa có thể không hiển lộ rõ đối với độc giả, những người bị đặt trong môi trường liên văn bản để tham dự vào sự cấu thành ý nghĩa. Tất cả ý nghĩa của văn bản đều phụ thuộc vào ý nghĩa của liên văn bản, và sự diễn dịch văn bản của chúng ta lại phụ thuộc vào quan điểm đã bị văn cảnh hóa của chúng ta và những quy tắc mà Stanley Fish đã gọi là “cộng đồng diễn giải”, những hiểu biết và phương pháp diễn giải của chúng ta được xác định về tính chất xã hội.

Vấn đề ý nghĩa – diễn ngôn và hệ tư tưởng

Khu vực chính thứ hai cấu thành ý nghĩa là diễn ngôn và hệ tư tưởng. “Diễn ngôn” là thuật ngữ thường được coi là gắn bó mật thiết nhất với tên tuổi của Michel Foucault; nó biểu thị cách thức mà theo đó, ý nghĩa được thiết lập, được thể hiện và bị kiểm soát trong một nền văn hóa thông qua cách sử dụng ngôn ngữ của nó. Mỗi nền văn hóa đều có những cách đặc thù để nói về và từ đó khái niệm hóa các kinh nghiệm, đồng thời chúng cũng có những quy tắc cho phép cái gì có thể được nói và không được nói cũng như để kiểm soát và tổ chức các cuộc trò chuyện. Thông qua diễn ngôn, chúng ta hình thành kinh nghiệm của mình, và một sự phân tích diễn ngôn có thể phát lộ ra cách chúng ta đã nhìn thế giới như thế nào – trong trường hợp của Foucault, đặc biệt nó phơi bày ra những cách thức biến đổi và phức tạp mà theo đó, quyền lực được phân phát và thi triển. Bởi ngôn ngữ là hệ thống biểu tượng nền tảng, qua đó, văn hóa được tạo lập và duy trì, ta có thể nói rằng mọi thứ đều là diễn ngôn, nghĩa là, chúng ta chỉ bộc lộ như là những gì mà ta gán ý nghĩa cho, chúng ta lại gán ý nghĩa bằng ngôn ngữ và ý nghĩa thông qua ngôn ngữ lại bị kiểm soát bởi những cấu trúc diễn ngôn của một nền văn hóa. Không có cái bên ngoài văn bản; kinh nghiệm của chúng ta được cấu thành bởi cách mà chúng ta nói về kinh nghiệm và do vậy tự thân nó là một kiến tạo mang tính văn hóa, tính ngữ học.

Song diễn ngôn không phải là một hiện tượng nhất thể. Một trong những đóng góp vĩ đại của nhà lý luận về ngôn ngữ và văn học người Nga, Mikhail Bakhtin, là khái niệm đa thanh. Khái niệm đa thanh có thể ví với hiện tượng khí tượng: bầu trời trông có vẻ như một thực thể nguyên khối, nhất thể nhưng nếu người ta thử quan sát, xem xét kỹ hơn, sẽ nhận thấy hóa ra bầu trời đó đầy những gió tạt, gió xoáy, những mức dao động nhiệt độ, những luồng không khí đi lên đi xuống, vân vân…Tương tự, ngôn ngữ của một nền văn hóa đầy những sự giao cắt của những cách sử dụng ngôn ngữ - từ cách sử dụng ngôn ngữ của các giai cấp, nghề nghiệp đến các phong trào, thế hệ, phái tính, vùng miền, vân vân, một sự bội trương của những hành vi biểu nghĩa và các liên văn bản tương tác với nhau.

Bởi diễn ngôn cấu tạo nên thế giới quan và bởi nó hằn sâu những mối quan hệ quyền lực, thế nên tất yếu nó có mối liên kết với hệ tư tưởng. Theo cách sử dụng của Marx, thuật ngữ này biểu thị ý niệm rằng những quan niệm của chúng ta về cấu trúc xã hội và cấu trúc hiện thực – cái có vẻ như là những sự kiện thực tế – là sản phẩm của những quan hệ kinh tế. Những nhà tư tưởng gần đây, theo Gramsci (5) và Althusser, đã hiểu hệ tư tưởng với hàm nghĩa rộng hơn, như là những thực hành xã hội và những sự khái niệm hóa đưa chúng ta trải nghiệm thực tại theo một cách nhất định nào đấy. Hệ tư tưởng, Althusser viết, là quan hệ tưởng tượng của chúng ta với những điều kiện tồn tại có thật; tính chủ thể của chúng ta được hình thành bởi quan hệ ấy, chúng ta bị nó “cuốn vào”, bị nó định hướng để nhìn thế giới theo một cách nhất định nào đấy. Hệ tư tưởng là bộ phận hàm ẩn, tất yếu của ý nghĩa, nó nằm trong cách chúng ta định hình thế giới. Nhưng hệ tư tưởng lại luôn che đậy, hay luôn “làm tự nhiên hóa”, những bất công và những thiếu sót mà nó tất yếu tạo ra, bởi quyền lực luôn nằm trong tay một cá nhân hay tầng lớp nào đó và do vậy, sẽ gây áp lực lên cách hiểu của chúng ta về văn hóa khiến cho việc thi triển quyền lực trông có vẻ bình thường, hợp thức và sự vi phạm dường như trở thành đương nhiên. Ví dụ, trong quá khứ, rõ ràng có thể thấy rõ tại sao phụ nữ luôn bị xem là thua kém. Về thể chất, phụ nữ yếu hơn; về tình cảm, họ đa cảm hơn, ít duy lý. Kinh Thánh bảo rằng họ thua kém và Tự nhiên cũng bảo như vậy. Đàn ông không nghĩ là họ áp chế phụ nữ; sự thua kém của phụ nữ là một sự kiện thực tế, cũng như là sự thua kém của người da đen, của trẻ con, những người khuyết tật, người điên, người mù chữ, giai cấp lao động. Lý thuyết gia Pierre Macherey cho rằng có thể xem xét bất kỳ cấu trúc của hoạt động giao tiếp nào để thấy được nhãn quan tư tưởng hệ của nó thông qua những sự đứt gãy, sự im lặng, những mâu thuẫn được giấu bên trong văn bản, cũng như là thông qua tất cả những giả định ngầm của nó về bản chất của thế giới.

Chủ nghĩa cấu trúc/Hậu cấu trúc

Khái niệm hệ tư tưởng là một khái niệm của chủ nghĩa cấu trúc, và như là hệ quả, nó cũng nằm trong tư tưởng hậu cấu trúc luận. Chủ nghĩa cấu trúc là một trào lưu rộng lớn có tham vọng định vị những nguyên lý vận hành đặt nền móng cho các hoạt động và ứng xử; tầm quan trọng của nó đối với lý thuyết văn chương là rất đáng kể, mặc dù lý thuyết văn chương đã phủ định một số giả định của nó. Hai lý thuyết trung tâm của chủ nghĩa cấu trúc là phân tâm học của Freud và lý thuyết kinh tế/chính trị của Marx. Đặc điểm để đánh dấu những lý thuyết này như những lý thuyết của chủ nghĩa cấu trúc là việc chúng định vị những lực tạo sinh ở bên dưới hoặc phía sau cái hiện thực được tri giác, những lực vận hành theo những quy luật chung thông qua những quá trình biến đổi. Trong các lý thuyết cấu trúc, động cơ hay những lực tạo sinh được tìm thấy không phải ở trong một thứ tiền văn bản (pre-text) nào mà ở trong một thứ văn bản phụ/văn bản chìm (sub-text); bề mặt là một sự biến đổi, một sự diễn đạt được tái mã hóa (re-coded articulation) những động cơ thúc đẩy và những điều kiện, và do đó, cái bề mặt là cái phải được dịch ra (translated) hơn là chỉ đọc nó đơn thuần. Từ sự trỗi dậy của ngành ký hiệu học đầy tiềm năng đến việc lý thuyết hóa lịch sử khoa học, cũng như bước đột phá mang tính cách mạng của ngành nhân chủng học hay việc ra đời của liệu pháp tâm lý gia đình (family therapy), chủ nghĩa cấu trúc đã trở thành một uy lực đứng ở trung tâm, có sức lan tỏa rộng khắp trong thế kỷ. Ý niệm về sự giải mã cái chiều sâu ra khỏi những biểu hiện của bề mặt, cái dường như thường xuyên che đậy hay là sự cải hóa cái nó-vốn-là, đã trở thành ý niệm trung tâm của lý thuyết văn chương.

Hậu cấu trúc luận đã tiếp tục khai triển ý niệm về cái bề mặt như là sự biến đổi, cải hóa của những uy lực ẩn giấu, nhưng lại bác bỏ cảm quan của chủ nghĩa cấu trúc về những quy luật phi thời gian chi phối những sự biến đổi, cải hóa và nhắm đến một thứ hiện thực nào đó ổn định nằm bên dưới và thống trị cái biến thiên liên tục – theo nhãn quan của hậu cấu trúc luận thì đấy là một thứ quan điểm bản chất luận, muốn bao gộp tất cả. Hậu cấu trúc luân đi xa hơn rất nhiều trong cái nhìn hiện thức như là những sự vỡ vụn, đa tạp, manh mún và mang tính đặc thù văn hóa so với quan điểm của cấu trúc luận. Từ đây nảy sinh ra một số hệ quả, trước hết là sự chú ý lớn hơn mà hậu cấu trúc luận dành cho những lịch sử đặc thù, những chi tiết, và những sự văn cảnh hóa cục bộ của những ví dụ cụ thể; thứ hai, nó nhấn mạnh nhiều hơn đến thân thể - đấy chính là cái thực sự chèn con người vào trong cấu trúc của thời gian và lịch sử; ba là sự chú ý lớn hơn vào những đặc thù của văn hóa, đến những khu vực của diễn ngôn và thực hành văn hóa; cuối cùng là sự chú trọng lớn hơn đối với vai trò của ngôn ngữ và văn bản trong việc kiến tao hiện thực và bản sắc. Lý thuyết văn chương là một sự thực hành hậu cấu trúc.

(Còn tiếp)



P.S: Dịch đến phần này, tôi đã thấy khó hơn rất nhiều. Vấn đề không còn chỉ nằm ở những thuật ngữ mà cả những cách diễn đạt, cấu trúc nhiều khi rất khó hiểu. Có thể nắm được ý tưởng nhưng để chuyển hóa nó thành một cảm quan bên trong bản thân thì chưa. Rất mong mọi người góp ý để tôi có thể hiểu hơn vấn đề.



Link bản gốc: http://www.brocku.ca/english/courses/2P70/contemporary_literary_theory.php



4 nhận xét:

  1. Bài dịch của thấy dài em đọc hổng hết nổi, chỉ đọc và so sánh thứ đoạn văn số 1. Em có vài cái điểm comment với thầy chơi vui:
    -Interpretive turn: chữ Turn này chắc người ta hiểu là 'khúc quanh' chứ hổng phải 'khuynh hướng' ạ nên có thể kêu nó là 'khúc quanh diễn dịch', một chữ khá thời thượng dạo này cùng với Khúc quanh ngữ học, Khúc quanh thông diễn học v.v.
    - Reality thường được dịch thực tại.
    - Mental Categories: những phạm trù thuộc dzìa thần kinh, 'tinh thần' (spirit) là một chữ rất khác
    - Stable là ổn định, khác xa với bất biến
    - No grounding truths: chân lí không do nền tảng đảm bảo, hổng phải là chân lí hổng bền vững. Nó nằm trong ý niệm ' Principle of ground' dân Triết Đức hay nhắc hay dịch theo nguyên nghĩa Latin trong tiếng Anh ' principle of sufficient reason' (Nguyên lí túc lí)
    - Particular sociological phenomenon: chữ phenomenon là chữ số nhiều của chữ phenomena
    - Cultural force: force là lực lượng, hổng phải quyền uy (authority)
    - Genuine moment in history: những khoảnh khắc chân thực trong lịch sử

    Trả lờiXóa
  2. + Đoạn 1 em có nhớ nhầm chữ phenomena mới là chữ số nhiều của chữ phenomenon ạ.Sorry.
    + Đoạn 2 em nghĩ là ok, em thấy chỗ này tác giả viết 1 câu cấu trúc song song rất dài, đẹp và rất có lực.
    + Đoạn 3 có nhiều chữ coi là thuật ngữ 'chuẩn' của Thông diễn học
    - Objectively 'there': khi nói chữ 'there' (bỏ trong dấu nháy) em nghĩ là người viết muốn 'chơi chữ' đụng vô tổ kiến lửa về thế giới Khách quan hay trong triết học từ Descartes đổ lên người ta gọi là Ngoại Giới = External World. Chữ 'There' là chữ hệ trọng trong cụm đó, có thể dịch là 'một cách khách quan 'tại đó'' (nếu thầy có coi cách sách người Việt dịch, người ta dịch lại chữ Dasein trong tiếng Đức là Being-There trong tiếng Anh và kêu là Tại Thể, 'There' hàm nghĩa là 'pre-given world' hay world trong Hiện tượng luận của Heidegger)
    - Conceptual World: thế giới khái niệm (ý niệm=idea là 1 chữ rất khác), chánh xác hơn hay gọi là Conceptual Scheme/Framework
    - '...a set of discourses which structure the world of culture...' = '1 tập hợp diễn ngôn CẤU TRÚC thế giới... '. Em thấy thầy dịch là CẤU TẠO , như thế ngữ dịch hàm nghĩa rằng diễn ngôn tạo tác hay ít ra là 1 bộ phận (a part) của thế giới (văn hóa). Theo em hiểu, ở đây có thể xem cái 'form' của câu này: 'A structure B' ( A có thể là discourses/ hay languages, B có thể là reality hay certain worlds), nó gắn liền với những tranh cãi đã có lâu đời về tương liên (relationship) giữa 2 bên: 1 bên là ngôn ngữ và 1 bên là thực tại (hay thế giới nào đó có tính cách 'thực tại'). Quan điểm của phe 'Thông diễn' hay Triết lí ngôn ngữ (gắn với Khúc quanh ngữ học) cho rằng A 'cấu trúc' B, tức tạo /có tương ứng 1-1 giữa A và B, do đó muốn tham thấu B (vốn là cái không có cách nào tiếp cận ngoại trừ) phải thông qua A (tức qua diễn ngôn/ngôn ngữ). Đặt trong cái 'ngữ cảnh' như vậy, A không thể nào được hiểu như cái cấu tạo B, tức hiểu như 1 lực lượng chi phối hay 1 phần của B được dẫu dưới bất cứ hình thức nào.

    Trả lờiXóa
  3. "- Conceptual World: thế giới khái niệm (ý niệm=idea là 1 chữ rất khác), chánh xác hơn hay gọi là Conceptual Scheme/Framework"
    Trong bài sentences on Conceptual Art, Sol Lewitt, 1969. (một trong những)Ông tổ của nghệ thuật vị niệm đã phân biệt Idea và Concept như sauL:
    "The concept and idea are different. the Former implies a general direction while the latter is the components. Ideas implement the concept"

    Trả lờiXóa
  4. 1. reading oneself reading chu khong phai reading one's own reading
    2. agency dịch là trung giới có vẻ không phải lắm, còn mediation, mediated thì sao? contingencies dịch là ngẫu nhiên cũng chưa chính xác, bạn nghĩ thêm xem còn từ nào hơn không?
    3. "nó vừa là nhân tố giải cấu trúc mọi giá trị hoặc thuần tuý mang tính trò chơi." destructive em dịch thành giải cấu trúc, vậy deconstructive? tác giả không giám dùng deconstructive ở chỗ này đâu.
    4. "power" của Foucault mà dịch là quyền lực thì dễ gây ngộ nhận thành một loại quyền lực cụ thể, trong tay một kẻ nào đó. Do vậy, anh hay dùng từ "quyền năng" vì chẳng biết từ nào hay hơn nữa.
    Anyway, em dịch tốt lắm đó. Nếu em interested, mình hợp tác dịch vài cuốn lý thuyết!!!!

    Trả lờiXóa