Thứ bảy, ngày 16 tháng tám năm 2008

ĐỌC

John Lye

Lý thuyết văn chương đương đại. (trích dịch -phần 1)

Lời tác giả: Luận văn này được đăng trên tạp chí The Brock Review, số 1 năm 1993, trang 90-106. Bài luận này trình bày về lý thuyết đương đại từ một điểm nhìn mang tinh thần của hậu cấu trúc luận và nếu hôm nay được viết lại, tôi sẽ nhấn mạnh đến những mô thức nghiên cứu văn hoá, đến sự phát triển của những nghiên cứu về phái tính và về chủ nghĩa Tân duy sử hơn là những gì đã đề cập. Tuy nhiên, tôi tin rằng những gì nói ra ở đây vẫn còn thích hợp và đã mô tả đươc những thay đổi cổt lõi về hệ hình vốn đã điều chỉnh hướng đi và nhiệm vụ của lý thuyết văn chương

*

Nghiên cứu văn chương trong các trường đại học hai thập kỷ qua được đánh dấu bởi mối quan tâm ngày càng lớn cũng như sự phân hoá thái độ một cách gay gắt đối với một loạt những cách tiếp cận lý thuyết liên đới với nhau được biết đến duới một cái tên chung là Lý thuyết văn chương. Ở nhiều khoa đã có sự chia rẽ giữa một bên là “dân lý thuyết” và phe đối phương - những người tự xem là mình là nguời bảo vệ cho những giá trị truyền thống đứng ở vị trí trung tâm của văn hoá chống lại cái đuợc coi là “chủ nghĩa phản nhân văn” của lý thuyết. Lý thuyết văn chương là một bộ phận của một trào lưu có quy mô rộng rãi trong đời sống văn hoá, ảnh hưởng đến một số những nguyên lý, gây nên một số tranh luận gay gắt - một trào lưu đã khám phá và làm sáng tỏ bản chất phức tạp của “ý nghĩa”, “văn bản” (textuality) và “diễn dịch”. Lý thuyết văn chương không phải là một thực thể đơn lập mà là một loạt những khái niệm và thực hành có quan hệ với nhau – trong đó quan trọng nhất là giải cấu trúc, phê bình ý thức hệ hay phê bình chính trị hậu Althusser (1), phê bình tâm phân học hậu Lacan (2), phê bình văn tân duy sử luận hay phê bình văn hoá, một số dạng thức của phê bình theo hồi ứng của độc giả và một bộ phận đông đảo của phê bình nữ quyền luận. Mục đích của bài luận này là xác định những vấn đề đã đặt nền móng cho những lý thuyết văn chương đương đại.

Lý thuyết vẫn luôn hiện diện - từ việc xem xét văn học tồn tại thế nào, ý nghĩa là gì, thế nào là một tác giả, v.v… Những thực hành diễn dịch chủ yếu vẫn đang có hiệu lực và quyền uy đang bị thách thức bởi lý thuyết hiện nay truớc kia đã từng mang tính cách mạng, những thực hành dựa trên lý thuyết đã trở thành quy tắc. Hai khuynh hướng thực hành phê bình chính yếu vào giữa thế kỷ này, một là truyền thống hình thức luận, hay “Phê bình mới”, xem văn bản như một hệ thống tạo nghĩa tương đối khép kín, phát triển sức mạnh biểu nghĩa khổng lồ của nó thông qua những đặc điểm hình thức và thông qua những xung đột, mơ hồ và trùng phức và hai là truyền thống Arnold (3) được thể hiện rất rõ trong trước tác của F.R.Leavis (4) và những người đi theo khuynh hướng của ông, theo đó, tập trung vào việc thẩm định năng lực của tác giả trong việc biểu hiện những kinh nghiệm luân lý một cách cụ thể và có sức thuyết phục. Trên thực tế, nhiều độc giả đã kết hợp những giá trị và phương pháp của những truyền thống này, cho dù nền tảng lý thuyết của họ có sự khác nhau.

Lý thuyết văn chương đương đại: những vấn đề “bị đe doạ”

Các lý thuyết và những thực hành diễn dịch thay đổi theo thời gian, phản ánh sự thay đổi của thế giới quan và chức năng của văn học; mỗi một quan điểm lý thuyết đều có xu hướng tìm ra lỗi của quan điểm trước đó - dường như đấy là một mô thức cách mạng thông thường, một sự thay đổi hệ hình có trật tự, giống một đứa trẻ nổi loạn phản ứng lại cha mẹ mình như một cách để khẳng định bản sắc của nó. Lý thuyết văn chương đã thách thức giả thuyết về sự phát triển tuần tự này, nó cho rằng sự biến động liên tục của văn hoá phản ánh sự bất ổn định cố hữu, những điểm khiếm khuyết trong sự tưởng tượng về văn hoá, cho thấy không một cái “nghĩa” nào có thể khẳng quyết nó là nghĩa tối hậu đối với chúng ta.

Lý thuyết văn chương đuơng đại đuợc đánh dấu bởi một số giả thuyết, mà ở đây tôi sẽ trình bày chín giải thuyết, mặc dù không phải mọi cách tiếp cận lý thuyết đều chia sẻ hay nhất trí với tất cả những giả thuyết này.

  1. Nghĩa, theo như kiến giải gây ảnh hưởng mạnh mẽ của Saussure, đuợc tạo nên bởi sự khác biệt, chứ không phải “sư hiện diện” (sự đồng nhất giữa ký hiệu với đối tượng của ý nghĩa). Một từ mang nghĩa vì nó phân biệt với những từ khác trong cùng một trường nghĩa, giống như một âm vị được nhận diện không phải nhờ âm thanh của nó mà nhờ sự khác biệt của nó với những âm đoạn khác. Không có nghĩa ổn định hay tuyệt đối, chỉ có những chuỗi khác biệt với những nghĩa khác mà thôi.
  2. Từ, tự thân nó, đã mang tính đa nghĩa và không có ngưỡng nào giới hạn sự xác định về nghĩa của nó (từ ngữ có nhiều tiềm năng phát nghĩa hơn là những gì dã đuợc thể nghiệm trong bất kỳ cách sử dụng nào). Do đó, chúng sở hữu những nghĩa tiềm ẩn vô hạn. Thêm nữa, những cấu trúc tu từ khiến các câu có thể biểu nghĩa nhiều hơn những gì hình thái ngữ pháp của chúng cho phép - phép mỉa mai là một ví dụ. Ngôn ngữ luón có khả năng biểu nghĩa nhiều hơn những gì nó đã phát lộ trong bất kỳ một văn cảnh nào. Từ phải có năng lực biểu nghĩa tiềm tàng vì như thế nó mới có khả năng kết hợp được, nghĩa là nó có thể ghép nối, vận động, tức là, có khả năng tạo dựng quan hệ và phát triển.
  3. Cách sử dụng ngôn ngữ là một hiện tượng phức tạp, khó nắm bắt hơn nhiều so với những gì mà thông thường chúng ta ngờ vực; cái mà chúng ta thường xem là ý nghĩa chỉ là bề mặt của một sân khấu có thật mà ở đó có sự tham gia của ngôn ngữ học, tâm lý và văn hoá - sự tham gia của những nhân tố này chúng ta không ý thức hết đuợc.
  4. Chính ngôn ngữ, chứ không phải một thứ “nhân tính” được xem là tất yếu hay một chân lý phi thời gian nào, là nhân tố trung tâm của văn hoá, ý nghĩa và bản sắc. Như Heidegger đã nhận định, con người không nói ngôn ngữ mà ngôn ngữ nói con nguời. Con người những hệ thống ký hiệu của ngôn ngữ, con người đuợc kiến tạo qua ngôn ngữ, mà những hệ thống đó và những ý nghĩa của chúng lại ngẫu nhiên, chắp vá, mang tính quan hệ.
  5. Do đó không có một “chân lý” hay một hiện thực nào mang tính chất cốt lõi – không có cái tuyệt đối, cái vĩnh hằng, không có một nền tảng bền vững nào của “chân lý” nằm dưới những lớp cát không ngừng trồi sụt của lịch sử. Chỉ có những “chân lý” cục bộ, nhất thời được các nhóm ngươi tạo ra thông qua những thiết chế văn hoá của mình để thoả mãn những nhu cầu của họ về quyền lực, về sự tồn tại và sự kính trọng. Hệ quả là cả giá trị và bản sắc cá nhân đều là những “kiến tạo” văn hoá, không phải là những tên gọi ổn định. Như Kaja Silverman đã chỉ ra thì ngay cả cái vô thức cũng là một “kiến tạo” văn hoá, vì cái vô thức đuợc cấu thành thông qua sự đè nén, mà lực tạo ra sự đè nén đó lại mang tính văn hoá và những gì là cấm kỵ đều bị công thức hoá bởi văn hoá.
  6. Theo đó, sẽ không có bản sắc trung tâm nào mang tính bền vững hay tất yếu đối với các cá nhân: một cá nhân hiện sinh như một quan hệ của những ý nghĩa và thực hành xã hội, của những áp lực tâm lý và ý thức hệ, của những cách sử dụng ngôn ngữ và những ký hiệu, biểu tượng khác. Cá nhân, do vây, là một hiện tượng phi trung tâm, không có một bản ngã ổn định; cá nhân chỉ là những tư thế chủ thể nằm trong địa hạt của văn hoá, ý thức hệ, sự biểu nghĩa vốn không ngừng biến chuyển.
  7. Nghĩa, bởi thế, đã hiện hữu như là những tấm mặt nạ trong đời sống xã hội của chúng ta một cách bình thường, thông qua nhiều phương thức khác nhau: bỏ sót, thay thế, khu biệt, nói nhầm và nghi hoặc. Nghĩa tức là: cái thế giới của ý nghĩa mà ta nghĩ mình chiếm lĩnh được không phải là cái thế giới trên thực tế mà ta chiếm lĩnh. Thế giới mà ta chiếm lĩnh là một kiến tạo của ý thức hệ, một sự tưởng tượng về cách mà thế giới đó đã tạo hình thế giới của chúng ta, trong đó có cả “bản ngã” của ta, theo mục đích sử dụng của ta.
  8. Một văn bản, như Roland Barthes chỉ ra, về mặt từnguyên, chính là một tấm vải, một vật được đan dệt; nó được đan dệt bởi những văn bản đã hiện diện trước đó và những cách sử dụng ngôn ngữ, những âm vang mà chúng bảo lưu được một cách cố hữu (đôi khi chúng còn được gọi là quan hệ nòi giống (filiations) hay vết tích), bởi những quy chiếu và những tập quán (practices) lịch sử, bởi trò chơi (“chơi” tức là sự tiềm tàng về nghĩa cũng như khả năng kết hợp) của ngôn ngữ> Một văn bản không phải và không thể chỉ là “chính nó”, cũng không thể đuợc vật chất hoá, có nghĩa là trở thành “một vật”; một văn bản là một quá trình. Lý thuyết văn chương chủ trương thọc sâu vào chiều sâu, tính phức tạp và bất định của văn bản cho đến khi không chỉ tất cả hàm ý của những sự đa phức này mà còn cả những mâu thuẫn cố hữu trong chúng, bị bóc trần.
  9. Không có cái “bên ngoài văn bản”, để dùng lại cụm từ của Derrida. Văn hoá và các cá nhân được kiến tạo thông qua những mạng lưới của những cách sử dụng ngôn ngữ, biểu tượng và diễn ngôn liên kết với nhau; toàn bộ cuộc sống này là một văn bản, là một chuỗi những quan hệ biểu nghĩa. Không thể cô lập bất cứ văn bản nào khỏi sự vận hành của nghĩa trong đời sống văn hoá, mọi văn bản đều kết nối và được tạo lập thông qua/ bởi các văn bản khác.

2 nhận xét:

  1. có vẻ quyển này tóm tắt tốt những dòng tư tưởng đương đại. Nhiều bài blog của anh cũng chỉ lảm nhảm mấy cái này. Có ai dịch cái essay "Differance" của Derrida o vn chua em nhi?

    Trả lờiXóa
  2. Gửi anh Hải Ngọc,
    Tôi đọc và rất khâm phục sức hiểu, sức dịch của anh. Nếu được anh cho phép thì những bài lý thuyết "nặng cân" như thế này tôi xin đăng ở trang web www.doxa.com.vn nhé. Chúc anh sức khỏe.
    Đinh Hồng Phúc

    Trả lờiXóa