
Trịnh Thị Minh Hà
Phụ nữ, Bản địa, Cái khác
Tam kết
Viết: một thực hành triển diễn bất tận, không phải là việc đem chèn một cái “tôi” tân ngữ (“me”) vào trong ngôn ngữ mà là tạo ra một lỗ hổng nơi mà cái “tôi” tân ngữ biến mất trong khi đó cái “tôi” chủ ngữ (“I”) thoắt đến thoắt đi không ngừng.
Không phải da đen/da đỏ/ da vàng, cũng không phải là phụ nữ mà là nhà thơ hay nhà văn, thế thôi. Đối với nhiều người trong chúng ta, câu hỏi về quyền ưu tiên vẫn là một vấn đề cốt yếu. Chỉ đơn thuần là một “nhà văn”, không nghi ngờ gì nữa, đảm bảo đem đến cho người ta một vị thế quan trọng hơn rất nhiều so với việc là “một người phụ nữ da màu viết văn”. Gắn chủng tộc và giới tính vào hành động sáng tạo từ lâu đã là một phương cách để các thiết chế văn chương rẻ rúng và hồ nghi những thành tựu của các nhà văn nữ không thuộc chính mạch. Chị ta, người “ngẫu nhiên” là một người “không phải da trắng” thuộc các nước thế giới thứ ba, một phụ nữ, và một nhà văn, buộc phải vượt qua những thách thức khi đặt tác phẩm mình trước sự lạm dụng của những lời ca tụng và phê bình có xu hướng hoặc là phớt lờ, bỏ qua hoặc quá nhấn mạnh vào đặc điểm chúng tộc và giới tính của chị ta. Tuy nhiên, thời gian ấy đã qua chị ta đã có thể tự tin đồng nhất mình với một nghề nghiệp hoặc một khuynh hướng nghệ thuật mà không cần phải chất vấn hay liên hệ nó với thân phận người phụ nữ da màu của mình. Hiện nay, sự phát triển của ý thức tộc nguời- nữ quyền (ethnic-feminist) càng khiến chị ta khó khăn hơn để vờ như không thấy không chỉ việc nhà văn được đặc thù hóa như là chủ thể lịch sử (ai viết? và trong bối cảnh nào?) mà còn cả việc bản thân sự viết như là một thực hành được đặt ở khoảng giao cắt giữa chủ thể và lịch sử - một thực hành văn chương bao hàm tri thức khả hữu về chính bản thân nó (ngôn ngữ và tư tưởng hệ) theo nghĩa hẹp của từ này. Một mặt, cho dù chọn vị trí nào đi nữa thì sớm muộn chị ta cũng thấy mình bị đẩy vào tình huống mà ở đó, chị không khỏi cảm thấy mình buộc phải lựa chọn giữa ba bản sắc xung đột nhau. Là nhà văn da màu? Là nhà văn nữ? Hay một phụ nữ da màu? Bản sắc nào xuất hiện đầu tiên? Chị đặt sự trung thành của mình vào đâu? Mặt khác, chị lại thường xuyên cảm thấy mình bất hòa với ngôn ngữ - cái tham dự vào hệ tư tưởng mà “người đàn ông da trắng được xem là nguyên tắc” và cũng là cái được sử dụng chủ yếu như một phương tiện để truyền bá những mối quan hệ quyền lực đã được thiết lập. Điều này càng được thể hiện sâu sắc hơn khi chị nhận thấy sự bất hòa trong mối quan hệ của mình với sự viết, điều mà khi được tiến hành một cách không phê phán thường chứng tỏ đó là một biểu hiện của sự thống trị: là người nắm giữ phát ngôn, chị thường viết từ một điểm nhìn của quyền lực, tạo ra một “tác giả” đặt chị lên trên tác phẩm của mình và tồn tại trước nó chứ hiếm khi đồng thời ở cùng với nó. Do đó, với chị, việc cầm bút lên mà cùng lúc đó, không tra vấn mối quan hệ của mình với thứ chất liệu đã định nghĩa chị và công trình sáng tạo của chị là điều bất khả. Như một tiêu điểm của ý thức văn hóa và sự đổi thay của xã hội, sự viết đã dệt vào ngôn ngữ những mối quan hệ phức tạp của một chủ thể bị mắc kẹt giữa những vấn đề về chủng tộc và phái tính với sự thực hành văn chương vốn mang tư cách là chính nơi sự tha hóa xã hội bị cản trở theo những cách thức khác nhau tương ứng với từng bối cảnh đặc thù.
Những lớp lang vô tận: Tôi không phải là tôi có thể là bạn và tôi (I am not I can be you and me)
Sự khác biệt then chốt với cái chính tôi (myself) hàm nghĩa rằng: tôi không phải là tôi, tôi nằm bên trong và cũng nằm bên ngoài tôi. TÔI/tôi có thể là Tôi (I) hoặc tôi (i), cả bạn (you) và tôi (me) đều nằm trong đó. Chúng ta (“We”) (với chữ W hoa) có khi bao hàm, nhưng cũng có khi lại loại trừ tôi. Bạn và Tôi thật gần gũi, chúng ta gắn quyện vào nhau; bạn thi thoảng có thể đứng ở phía bên kia ngọn đồi nhưng bạn cũng có thể là tôi, trong khi vẫn là những- gì- là -bạn và những gì không-phải-là tôi. Sự khác biệt giữa những thực thể được hiểu như là những sự hiện diện tuyệt đối – do đó dẫn dến những quan điểm về nguốc gốc thuần khiết và bản ngã đích thực – là kết quả tự nhiên của một hệ thống tư tưởng nhị nguyên đặc trưng của phương Tây (một loại “bản thể- thần học” đã định hình đặc điểm của siêu hình học phương Tây). Chúng cần được phân biệt với những sự khác biệt được nắm bắt ở giữa đồng thời ở cả bên trong các thực thể, mỗi sự khác biệt này được hiểu như là sự hiện diện đa bội. Không phải MỘT, mà cũng không phải hai. “Tôi” (I), do đó, không phải là một chủ thể thống nhất, một bản sắc cố định hay một khối rắn được bao phủ bằng những lớp bọc ngoài mà người ta phải bóc ra dần dần trước khi có thể thấy được diện mạo thật của nó. “Tôi” (I), như thế, là những lớp lang vô tận (infinite layers). Khó có thể biểu đạt được sự phức tạp của nó thông qua những quy ước dập khuôn như Tôi, tôi hay là Tôi/tôi. Vì vậy, Tôi/tôi bị thúc đẩy bởi sự muốn nói/không nói, bởi việc phải viện đến toàn bộ các đại từ nhân xưng để có thể cận kề bản chất lẩn tránh và tĩnh tại của cái Không - Tôi (Not-I). Dù tôi chấp nhận nó hay không, bản chất của Tôi, tôi, bạn, anh/chị ta. Chúng ta, chúng ta, họ và phụ nữ/đàn ông liên tục trùng lặp với nhau. Tất cả đều thể hiện một sự nước đôi tất yếu, bởi ranh giới phân định Tôi và Không-Tôi, chúng ta và họ, hay anh ta và chị ta không phải (không thể) bao giờ cũng rõ ràng như ta mong muốn. Song bất chấp sự tuyệt vọng của chúng ta, vẫn luôn có những nỗ lực không ngừng nhằm chia tách, bao gộp, và sửa chữa, các phạm trù vẫn luôn có chỗ rò rỉ. Trong tất cả lớp lang thiết lập nên tổng thể mở (không bao giờ có giới hạn) của “Tôi”, cái nào cần được lọc ra như là cái không cần thiết, giả tạo, lệch lạc và cái gì cần được xem là thuần khiết, chân thực, có thật, xác thực, nguyên gốc, đáng tin cậy? Mà thực ra cái gì, vì tất cả những sự trao đổi này, xoay vần trong một quá trình bất tận? (Theo bối cảnh mà nó vận hành trong đó, cái không cần thiết có thể lại trở thành cái thực; cái đáng tin cậy có thể trở thành cái giả tạo; v.v…) Cái đáng tin cậy như một nhu cầu muốn dựa vào một thứ “nguồn gốc không thể nghi ngờ” chính là hậu quả của nỗi sợ ám ảnh: nỗi sợ đánh mất sự kết nối. Mọi thứ cần phải được gắn kết lại với nhau. Trong nỗi khao khát muốn tìm được một logic nào đó của sự tồn tại, tôi không tránh khỏi cảm giác ghê sợ những mối đe dọa của sự gián đoạn, phiêu tán và đình trệ. Mở đầu, phát triển đến cao trào, thế rồi, kết thúc. Lấp đầy, liên kết, thống nhất. Mệnh lệnh và những mối kết nối đã tạo nên một ảo ảnh về sự liên tục, điều mà tôi hết sức quý giá xuất phát từ nỗi sợ sự vô nghĩa và trống rỗng. Bởi thế, một nguồn gốc sáng rõ sẽ cho tôi có được sự kết nối ngược trở lại xuyên thời gian, và tất nhiên, tôi sẽ đi tìm cái cái lớp đích thực của bản ngã mà lúc nào tôi cũng có thể bấu víu vào đó. Giải trừ cái nguồn gốc theo viễn tượng như vậy là dỡ bỏ nền tảng, định đề, cả khúc dạo đầu lẫn phần chung cuộc – nhờ đó thả lỏng cho cái bất định nảy nở: cái kết cục, như nỗi sợ hãi trong dự cảm, hoặc là một sự tiếp nối hỗn loạn của những cao trào, hoặc là một sự đơn điệu không bị gián đoạn, nhạt nhẽo, bị đè nén (de{inex}pressive) – và cũng là bước vào quá trình tương tác và trao đổi vô hạn mà không một tác nhân nào có thể dừng lại quá trình đó, ngay cả cái chết. Nói khác đi, người ta có thể nói nhiều điều rằng họ là gì, không chỉ trong mối liên hệ với việc họ đã và sẽ là gì (không nên chỉ thấy chúng như những bầy đàn được gắn nối với nhau theo trình tự thời gian của những quan hệ nhân quả) mà còn trong mối liên hệ với sự hiện diện trực tiếp của mỗi người và cả trong mối liên hệ với chính bản thân họ như là cái phi/hiện diện(non/presence). Cái thực (real), thực chất chỉ là một mã biểu hiện (code of representation), không(thể) trùng khớp với cái được thực hiện hay được biểu hành.
Nguồn: Trinh T. Minh-ha, “Woman, Native, Other: Writing Postcoloniality and Feminism” (trích, trang 31). Bản điện tử tại địa chỉ: http://www.asu.edu/pipercwcenter/how2journal/archive/print_archive/tmmwoman.html
P.S: Còn tiếp tục phải edit.
0 nhận xét:
Đăng một Nhận xét